Home / Bài viết chuyên khoa / Bệnh tắc tĩnh mạch võng mạc

Bệnh tắc tĩnh mạch võng mạc

Tắc tĩnh mạch võng mạc là bệnh lý mạch máu võng mạc biểu hiện sự ngừng trệ tuần hoàn trở về ở võng mạc, xảy ra ở thân tĩnh mạch trung tâm võng mạc ngay đĩa thị, sau lá sàng được gọi là tắc tĩnh mạch trung tâm võng mạc hoặc tắc ở thân tĩnh mạch sau khi phân chia 2 nhánh gọi là tắc tĩnh mạch nửa võng mạc hoặc tắc ở nơi bắt chéo động – tĩnh mạch gọi là tắc nhánh tĩnh mạch võng mạc.

Trong số những bệnh lý mạch máu võng mạc, tắc tĩnh mạch võng mạc là nguyên nhân gây mù lòa thứ 2 trên thế giới sau bệnh võng mạc tiểu đường. Những năm gần đây, cùng với sự gia tăng của các bệnh lý như tăng huyết áp, tim mạch, tiểu đường, rối loạn mỡ máu… thì bệnh tắc tĩnh mạch võng mạc cũng có chiều hướng tăng lên.

Hình ảnh mắt bình thường và mắt bị tắc tĩnh mạch võng mạc

Những yếu tố liên quan đến bệnh tắc tĩnh mạch võng mạc

Các yếu tố về toàn thân

  • Tăng huyết áp (vô căn): là nguyên nhân thường gặp nhất.
  • Xơ vữa động mạch: có thể đã gây tăng huyết áp hoặc chưa.
  • Tắc hay hẹp động mạch cảnh trong: do bẩm sinh hoặc do mảng xơ vữa động mạch gây nên.
  • Bệnh đái tháo đường.
  • Rối loạn mỡ máu: cholesterol máu tăng hoặc triglyceride tăng hoặc cả 2 loại đều tăng.
  • Bệnh thận: suy thận các mức độ, viêm cầu thận cấp, viêm cầu thận mãn…
  • Các bệnh về máu: thiếu máu, bệnh bạch cầu cấp, đa hồng cầu, thiếu máu, bệnh lý hồng cầu, rối loạn globulin máu…
  • Các bệnh lý mạch máu: viêm tĩnh mạch, viêm thành mạch mãn tính nguyên phát hay thứ phát sau nhiễm trùng tại chỗ hay toàn thân: bệnh giang mai, bệnh BehÇet, bệnh Eales, bệnh hệ thống ..
  • Bệnh còn hay gặp ở những người nghiện thuốc lá.

Các nguyên nhân tại chỗ:

  • Tăng áp lực hố mắt
  • Tăng nhãn áp do glôcôm mãn tính
  • Viêm tổ chức hốc mắt mãn tính…

Dấu hiệu bệnh nhân gặp phải?

Bệnh lý tắc tĩnh mạch võng mạc thường xuất hiện đột ngột ở một mắt; Triệu chứng có thể từ nhẹ đến nặng tùy vị trí và mức độ tắc tĩnh mạch. Thậm chí người bệnh có thể không có triệu chứng gì, hoặc chỉ cảm thấy như có một đốm đen ở một phần mắt, không ảnh hưởng thị lực.

           Nhưng thông thường bệnh nhân đột nhiên nhìn kém, cảm giác như nhìn qua lớp sương mù, hoặc như thấy có đám đen trước mắt, có thể dẫn đến thị lực giảm trầm trọng trong vòng vài phút hoặc sau 2 – 3 ngày.

Bệnh tắc tĩnh mạch võng mạc có nguy hiểm không?

            Tắc tĩnh mạch võng mạc là bệnh lý nguy hiểm, là một trong những nguyên nhân gây mù lòa hay gặp phải, bệnh nhân khi thấy có các dấu hiệu bất thường về mắt cần được đến thăm khám và kịp thời xử trí tại các cơ sở khám chữa bệnh hay bệnh viện chuyên khoa.

Chẩn đoán và điều trị bệnh tắc tĩnh mạch võng mạc

          Bệnh nhân được thăm khám lâm sàng, làm các xét nghiêm chẩn đoán hình ảnh như: chụp cắt lớp võng mạc (OCT), chụp mạch ký huỳnh quang, chụp ảnh đáy mắt màu…để xác định chẩn đoán từ đó đưa ra hướng xử trí phù hợp.

Tại Bệnh viện Mắt Hà Đông với đội ngũ bác sĩ giàu kinh nghiệm, kết hợp với hệ thống máy, phương tiện, kỹ thuật hiện đại, bệnh nhân đã được chẩn đoán sớm, điều trị và quản lý hiệu quả đem lại niềm tin và sự hài lòng cho rất nhiều bệnh nhân trong thủ đô Hà Nội cũng như các tỉnh lân cận: Hòa Bình, Hà Nam, Hưng Yên….

           Thăm khám lâm sàng: Khi khám mắt, bác sĩ phải tra thuốc giãn đồng tử để soi đáy mắt.

Khám đáy mắt

Tắc tĩnh mạch trung tâm võng mạc có 4 dấu hiệu chính:

  • Tĩnh mạch giãn to, ngoằn nghèo.
  • Phù đĩa thị, phù võng mạc và có thể phù hoàng điểm.
  • Xuất huyết võng mạc trải rộng từ đĩa thị ra tận ngoại vi võng mạc, có thể xuất huyết nông hoặc xuất huyết sâu trong võng mạc.
  • Vết dạng bông (xuất tiết mềm) tập trung quanh đĩa thị ít hay nhiều tùy thể (gặp nhiều ở thể thiếu máu).

                     Tắc tĩnh mạch nửa võng mạc hay tắc nhánh tĩnh mạch võng mạc: các triệu chứng khu trú ở vùng võng mạc được dẫn lưu bởi nhánh tắc.

                       Giai đoạn có biến chứng: ngoài 4 dấu hiệu trên còn có thể xuất hiện tân mạch (đĩa thị, võng mạc hoặc trên móng mắt, góc tiền phòng), xuất huyết dịch kính, bong võng mạc…


Hình ảnh đáy mắt và trên phim chụp mạch kí huỳnh quang của bệnh nhân tắc tĩnh mạch trung tâm võng mạc

Thăm khám cận  lâm sàng:

Chụp mạch ký huỳnh quang võng mạc: thì tĩnh mạch chậm, không có thuốc huỳnh quang trong lòng mao mạch (thiếu máu võng mạc), mao mạch vùng hoàng điểm không hiện lên (thiếu máu hoàng điểm). Khuếch tán thuốc huỳnh quang qua thành mao mạch và các tĩnh mạch lớn gây tăng huỳnh quang ở võng mạc, đĩa thị, các hốc xung quang hoàng điểm (phù hoàng điểm dạng nang).

Bệnh nhân được chụp mạch kí huỳnh quang trên máy VISUCAM 500 tại Bệnh viện Mắt Hà Đông.
  • Chụp OCT võng mạc (Optical Coherence Tomography): đo chính xác chiều dày võng mạc và thể tích hoàng điểm
Bệnh nhân Nguyễn Đức L., 60 tuổi. Được chỉ định chụp cắt lớp võng mạc trên Máy OCT : Cirrus HD – OCT 5000 giúp đánh giá bề dày hoàng điểm và các tổn thương khác trên võng mạc.

Điều trị tắc tĩnh mạch võng mạc

Bệnh lý tắc tĩnh mạch võng mạc cần được điều trị ở cơ sở chuyên khoa mắt. Bác sĩ sẽ chỉ định làm xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh (chụp mạch ký huỳnh quang võng mạc, chụp cắt lớp võng mạc…) để xác định hình thái bệnh, từ đó có phương pháp điều trị thích hợp.

Tắc tĩnh mạch võng mạc ở nhánh tĩnh mạch nhỏ, thị lực hầu như không thay đổi, bệnh sẽ tự thoái triển. Còn nói chung, tắc tĩnh mạch võng mạc là bệnh lý nặng nề, thị lực giảm nhiều. Điều trị sớm giúp ngăn ngừa biến chứng và có thể cải thiện thị lực tốt hơn.

Tùy theo hình thái, mức độ tắc tĩnh mạch võng mạc cũng như các triệu chứng khác ở đáy mắt, bác sĩ sẽ lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp hoặc phối hợp các phương pháp như dùng thuốc, laser võng mạc, tiêm nội nhãn anti VEGF – corticoid…

Tiến triển và biến chứng

           Tắc tĩnh mạch võng mạc lành tính ở người trẻ: bệnh tự thoái triển.

           Tắc tĩnh mạch thể thiếu máu: có thể gây glôcôm tân mạch sau 100 ngày, hoặc tân mạch đĩa thị, tân mạch võng mạc gây xuất huyết dịch kính, bong võng mạc co kéo…

           Tắc tĩnh mạch thể không thiếu máu: phù hoàng điểm kéo dài gây lỗ hoàng điểm, có thể chuyển thể bệnh sang thể thiếu máu.

Phòng bệnh

Bệnh nhân phải điều trị các bệnh toàn thân có nguy cơ cao như xơ vữa mạch máu, rối loạn mỡ máu, tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh thận…bệnh nhân không nên hút thuốc lá, tuân thủ điều trị theo chỉ dẫn của bác sĩ. Khám kiểm tra mắt định kỳ.

BS.Tôn Việt Dũng

Bài viết liên quan

Bệnh viện Mắt Hà Đông đạt Giải Nhất Hội thi Điều dưỡng, Hộ sinh, Kỹ thuật viên giỏi ngành Y tế Hà Nội năm 2019

Hướng tới kỷ niệm 129 năm ngày sinh của Bác và 30 năm thành lập …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *