Home / CHUYÊN KHOA / RUNG GIẬT NHÃN CẦU

RUNG GIẬT NHÃN CẦU

  1. ĐẠI CƯƠNG

Rung giật nhãn cầu (RGNC) là một bất thường vận nhãn thường gặp khi khám lâm sàng hàng ngày, theo  của Sarvananthan (2009), RGNC nói chung chiếm 24/10.000 dân. RGNC có thể sinh lý hoặc do bệnh lý, do bẩm sinh hoặc mắc phải. RGNC bẩm sinh liên quan đến sự bất thường của một phần hay toàn bộ đường dẫn truyền thị giác và RGNC bẩm sinh chiếm khoảng 1/6500 trẻ. RGNC mắc phải thường do bất thường của hệ thống tiền đình, do bệnh của hệ thần kinh trung ương. RGNC có thể do tổn thương đơn thuần tại mắt, tổn thương hệ thần kinh trung ương và cũng có thể không tìm thấy nguyên nhân.

“Rung giật nhãn cầu là những động tác dao động lặp đi lặp lại theo nhịp hoặc không theo nhịp, có chu kỳ, không chủ ý của nhãn cầu và luôn khởi đầu bằng một pha chậm”. Trong RGNC, sự di chuyển mắt tiếp theo (pha thứ hai) có thể là pha chậm tạo nên sự di chuyển nhịp nhàng như biểu đồ hình sin gọi là RGNC kiểu quả lắc (pendular nystagmus). Nếu pha thứ hai nhanh gọi là RGNC kiểu lò xo (jerk nystagmus).

  1. NGUYÊN SINH BỆNH

Rung giật nhãn cầu thường xuất hiện do sự rối loạn của một trong ba cơ chế duy trì vị trí của ảnh rơi vào hoàng điểm.

2.1. Sự định thị ở vị trí nguyên phát

Ở vị trí nguyên phát, vật tiêu luôn được định thị ở hoàng điểm. Khi ảnh lệch ra ngoài hoàng điểm, hệ thống thị giác phát đi tín hiệu điều khiển hệ vận nhãn chuyển động tái định thị của nhãn cầu nhằm đưa các hình ảnh này rơi đúng trở lại trung tâm hoàng điểm và tạo ra chuyển động của nhãn cầu.

2.2. Phản xạ mắt – tiền đình

Hệ thống tiền đình duy trì định thị hoàng điểm nếu đầu xoay thì nhãn cầu xoay theo hướng ngược lại.

2.3. Hệ thống giữ hướng nhìn sang bên hay sự phối hợp thần kinh

Mặc dù cơ chế này về lý thuyết  chưa thực sự rõ ràng nhưng nhiều tác giả cũng nhận thấy rằng vùng kiểm soát vận nhãn hoặc là nguyên phát hoặc thứ phát chịu trách nhiệm cho việc tạo ra những tín hiệu vận nhãn bất thường. Những tín hiệu này từ hệ thống định thị nhìn theo, hệ mắt – tiền đình và một phần nhân tiền đình chịu trách nhiệm cho việc giữ hướng nhìn hay sự phối hợp thần kinh (TK).

Yếu tố phối hợp TK (neural integrator) chỉ hoạt động khi mắt nhìn về một hướng cụ thể. Sự phối hợp TK làm thay đổi tốc độ dẫn truyền của cơ khi vận nhãn để vượt qua được sức cản trong hốc mắt và duy trì vị trí định thị không nguyên phát. Khi yếu tố này không bình thường, tốc độ dẫn truyền các cơ ngoại nhãn không đủ vượt qua sức cản trong hốc mắt để duy trì vị trí hướng nhìn như ý muốn. Điều này dẫn đến việc chuyển động mắt chậm về hướng nhìn nguyên phát và sẽ xảy ra chuyển động mắt nhanh để điều chỉnh về hướng nhìn theo ý muốn.

Giữ hướng nhìn mong muốn đòi hỏi một lượng tín hiệu TK tương ứng với vị trí của nhãn cầu gửi tới tế bào dẫn truyền TK vận nhãn và các cơ ngoại nhãn. Tín hiệu này rất cần thiết để duy trì hướng nhìn cụ thể nào đó sau khi mắt từ vị trí nguyên phát chuyển sang hướng khác, một chuyển động mắt nhanh xuất hiện để nhìn theo vật tiêu di động hoặc giữ hướng nhìn khi chuyển động đầu.

Để vận động và duy trì vị trí của nhãn cầu đòi hỏi sự nguyên vẹn và sự phối hợp đồng bộ giữa hệ tiền đình, tiểu não và các nhân, cơ vận nhãn. Khi rối loạn một trong ba cơ chế trên sẽ dẫn đến rối loạn vận nhãn gây RGNC.

Hướng của RGNC là hướng của pha nhanh, tức là hướng mà nhãn cầu trả nhanh. Mặc dù RGNC được mô tả một cách điển hình bởi pha nhanh do dễ quan sát hơn pha chậm.

Hình 1: Hướng của RGNC

Động tác nhãn cầu chậm ở một hướng và trả nhanh về hướng ngược lại trong RGNC kiểu lò xo hay đồng đều ở cả hai hướng trong RGNC kiểu quả lắc. RGNC do bệnh lý tiền đình sẽ tăng cường độ khi mắt nhìn về hướng có động tác trả nhanh. RGNC kiểu ngang do mất thăng bằng tiền đình ngoại biên sẽ vẫn giữ hướng rung giật ngang cho dù nhìn lên hay xuống.

RGNC có  thay đổi theo hướng nhìn, có thể  RGNC chỉ xuất hiện khi nhìn ra ngoài tối đa. RGNC có thể có góc hãm, góc hãm là vị trí hướng nhìn khi RGNC giảm và BN có thể nhìn rõ hơn, thường BN sẽ thích nghi bằng cách xoay đầu hoặc nghiêng đầu cho cằm lên trên hoặc xuống dưới nhằm đưa mắt về vùng này.

Thị lực nhìn gần thường cũng cao hơn thị lực nhìn xa, một phần cũng là do khi quy tụ sẽ làm giảm RGNC. Trong RGNC hiện, thị lực hai mắt (2M) và thị lực một mắt (1M) là tương đương nhau trong khi với RGNC ẩn, thị lực 2M tốt hơn thị lực 1M. Thị lực giảm ở hầu hết bệnh nhân RGNC bẩm sinh.

Lác thường đi kèm trong RGNC nhất là những BN có bệnh làm tổn hai môi trường trong suốt, đường dẫn truyền thị giác. Lác gặp trong RGNC bẩm sinh với tỉ lệ dao động từ 8-33%.

3. PHÂN LOẠI

RGNC được chia thành RGNC sinh lý và RGNC bệnh lý, RGNC bệnh lý được chia thành RGNC bẩm sinh và RGNC mắc phải.

3.1 RGNC sinh lý

3.1.1 RGNC thị – động (opticokinetic nystagmus)

Đây là một dạng RGNC kiểu lò xo xảy ra ở người bình thường khi nhìn vào các vật chuyển động, RGNC lặp lại, liên tục và bao gồm có 2 pha:

– Pha chậm: về hướng vật tiêu di chuyển

– Pha nhanh: về hướng đối diện với hướng di chuyển của vật tiêu. Trên lâm sàng hay dùng trống để gây RGNC bằng cách xoay tròn trống, gồm các sọc đen trắng xen kẽ.

3.1.2 RGNC khi nhìn tận ngoài

Là dạng rung giật kiểu lò xo, biên độ nhẹ xảy ra ở một số người bình thường khi mắt nhìn ta tận phía thái dương.

3.1.3 RGNC do kích thích tiền đình

Được tạo ra bởi thử nghiệm nhiệt:

– Nước lạnh trong tai sẽ làm RGNC với pha nhanh về hướng đối diện với tai đang thử.

– Nước nóng trong tai sẽ làm RGNC với pha nhanh cùng hướng với tai đang thử.

Nếu không còn đáp ứng này thì có thể kết luận tổn thương gây nên do bệnh lý tiền đình ngoại vi.

3.2 RGNC bệnh lý

3.2.1. RGNC bẩm sinh

– Thời gian xuất hiện: tháng đầu đời của trẻ (thường sau 2 tháng).

– Không có rung hình (oscillopsia).

– Đặc điểm:

Thị lực nhìn gần tốt hơn nhìn xa. Thị lực có thể vẫn tốt, thị lực kém khi có kèm theo tổn hại đường dẫn truyền thị giác hướng tâm: bạch tạng, mù màu, mù bẩm sinh Leber, không có mống mắt, đục thể thủy tinh, bệnh lý võng mạc bẩm sinh v.v…

RGNC cùng hướng và theo chiều ngang, được duy trì ngay cả khi nhìn lên hoặc xuống. RGNC có thể liên tục hoặc ngắt quãng và có thể rung giật theo kiểu quả lắc hay lò xo ở các hướng nhìn khác nhau.

RGNC trở thành kiểu lò xo khi nhìn sang bên, pha nhanh cùng hướng với hướng nhìn. RGNC tăng dần tốc độ ở pha chậm, được phát hiện qua máy ghi chuyển động nhãn cầu. Có thể có vùng trung hòa, ở đó RGNC giảm hoặc hết. Ở vùng này thì RGNC theo kiểu quả lắc hay lò xo, khi thì hết RGNC, khi thì có sự đổi hướng đột ngột mà không có hãm.

RGNC giảm hoặc mất khi quy tụ, RGNC tăng lên khi định thị hoặc khi tập trung vào vật tiêu và mất đi khi ngủ hoặc khi gây mê.

Thường có thể gặp lác, tật khúc xạ đi kèm.

RGNC ẩn: là hình thái RGNC chỉ xuất hiện khi che một mắt, cần chú ý đo thị lực cho những trường hợp có RGNC ẩn bởi vì khi che một mắt sẽ gây RGNC và giảm thị lực ở mắt không che. Nên dùng kính cộng hoặc kính sương mờ số cao để che mắt khi đo thị lực.

3.2.2 RGNC mắc phải

RGNC một mắt ở trẻ em: hiếm gặp, xuất hiện sớm những tháng đầu đời của trẻ, nguyên nhân thì đa dạng, từ lành tính cho đến ác tính, thậm chí đe dọa tính mạng. Rung giật ở một mắt, liên tục, hướng dọc hoặc hình ê líp với biên độ nhỏ. RGNC một mắt theo chiều dọc ở trẻ nhũ nhi thường có liên quan đến teo gai thị, tổn hại đồng tử hướng tâm, u TK thị hoặc u giao thoa và phát hiện qua chụp sọ não.

RGNC đầu lắc lư: đây là dạng lành tính và không có các bất thường về TK ngoại trừ có thể có lác và nhược thị. RGNC thường phát triển ở những năm đầu đời, biểu hiện rung giật quả lắc, hướng ngang, tần số cao, biên độ nhỏ ở cả hai mắt, không liên tục. RGNC dạng này có thể đi kèm với lắc lư đầu, tư thế lệch đầu vẹo cổ. Phân biệt dạng RGNC này và RGNC bẩm sinh dựa vào triệu chứng lắc lư đầu, RGNC không liên tục, và tần số giật mắt tương đối cao. RGNC đầu lắc lư đôi khi xảy ra ở một mắt, chính vì thế rất khó phân biệt với RGNC một mắt ở trẻ em. Do đó, BN có RGNC đầu lắc lư cần phải chụp sọ não để loại trừ u TK đệm của đường dẫn truyền thị giác trước và những khối u ở vùng dưới đồi hoặc u tuyến yên. Loại rung giật này thì giật mắt và tư thế đầu bù trừ sẽ mất đi sau nhiều năm (thường là trước 10 tuổi).

RGNC của thợ mỏ: RGNC xoáy, xuất hiện ở những công nhân mỏ than do điều kiện nhìn lâu dài trong tối.

RGNC bập bênh: là hình thái hiếm gặp, biểu hiện bằng một mắt xoáy vào trong và đưa lên, trong khi mắt kia xoáy ra ngoài và đưa xuống, sau đó xảy ra ngược lại. RGNC điển hình là kiểu quả lắc, tần số và cường độ nhỏ. RGNC bập bênh có thể bẩm sinh, nhưng thường gặp trên BN bị khối u to ở vùng gần tuyến yên mà tác động đến não thất 3. U sọ hầu là nguyên nhân hay gặp. Những u cận yên – gian não và chấn thương cũng có thể gây RGNC bập bênh; không có giao thoa thị giác là nguyên nhân hiếm gặp gây RGNC loại này. Viêm võng mạc sắc tố, bạch tạng và thiểu sản gai thị cũng hay gặp trong RGNC bập bênh.

RGNC tiền đình: Tổn thương các ống bán khuyên gây ra RGNC kiểu lò xo, ngang hoặc xoáy, biên độ nhỏ, pha nhanh hướng về phía đối diện bên tổn thương.

RGNC tiền đình ngoại vi: thường kèm theo ù tai, điếc, không bị ảnh hưởng bởi kích thích thị giác, do đó vẫn tồn tại trong tối hoặc ở mắt mất chức năng, rung giật cũng không bị ảnh hưởng bởi tư thế đầu. Nguyên nhân thường gặp do viêm, chấn thương, khối u, bệnh mạch máu v.v…

RGNC tiền đình cũng có thể do nguồn gốc trung ương, nhân tiền đình ở thân hoặc tiểu não. Rung giật kiểu lò xo, thường theo hướng dọc. Rung  giật tăng lên khi thay đổi tư thế đầu, các nguyên nhân thường gặp là bệnh hủy myelin, viêm não, khối u, nhồi máu, nhiễm độc. RGNC giảm khi che một mắt

Phát hiện RGNC ẩn (do rối loạn hơp thì): RGNC ẩn là một sự dao động hai mắt theo chiều ngang, kiểu lò xo, pha chậm hướng về mắt bị che và pha nhanh về hướng mắt không che (mắt định thị), và xảy ra khi che một mắt.

RGNC đánh xuống: RGNC đánh xuống là dạng phổ biến nhất của RGNC tiền đình trung tâm. Các tổn thương bao gồm tiền đình – tiểu não (ví dụ: vùng nhân, lưỡi gà, phần nhung, cận nhung) và giảm truyền trương lực từ các ống bán khuyên trước đến thần kinh vận nhãn. RGNC đánh xuống có thể xuất hiện ở tư thế nhìn nguyên phát và nhãn cầu đánh xuống mạnh hơn khi nhìn xuống dưới và BN thường có rung hình.

Tổn thương cấu trúc giải phẫu có thể liên quan đến RGNC đánh xuống, trong đó tổn thương thường xảy ra ở chỗ nối hành não – cổ. Hay gặp nhất là dị dạng Chiari tuýp I, xảy ra trong quá trình phát triển của thai nhi và đặc trưng bởi vị trí hạnh nhân tiểu não di chuyển xuống dưới lỗ chẩm hơn 4mm, và vào trong đốt sống cổ, ngăn chặn sự lưu thông dịch não tủy giữa ống tủy sống và nội sọ. Chụp MRI có thể phát hiện dị dạng này.

RGNC đánh lên: có thể do tổn thương ở thân não (thường ở hành não) hoặc thùy nhộng tiểu não trước, chính vì thế các tổn thương có thể tồn tại ở nhiều vị trí khác nhau trong hố sau. Nguyên nhân thường gặp của RGNC đánh xuống bao gồm mất myelin, đột quỵ,  thoái hóa tiểu não, nghiện thuốc lá.

RGNC xoáy: mặc dù RGNC tiền đình có thể có yếu tố xoáy, nhưng hoàn toàn RGNC xoáy là do tổn thương trung tâm. RGNC xoáy thường liên quan với tổn thương hành não (rỗng hành não, nhồi máu hành não bên).

RGNC theo chu kỳ: hoàn toàn là RGNC theo chiều ngang mà có thể dự đoán trước được việc dao động theo hướng nào, biên độ cũng như tần suất xuất hiện. Ví dụ, RGNC đánh sang phải xuất hiện với biên độ lớn hơn và tần suất cao hơn ở điểm cụ thể, sau đó hết rung giật, cuối cùng dẫn đến một giai đoạn ngắn có RGNC đánh xuống hoặc không còn RGNC. Sau đó RGNC đổi hướng, kiểu lên tối đa rồi lại giảm xuống mà nó lại dẫn đến một giai đoạn ngắn không có RGNC để hoàn thành chu kỳ. RGNC theo chu kỳ có thể bẩm sinh hoặc mắc phải. Loại mắc phải có rung hình theo chu kỳ khoảng từ 2-4 phút. BN bị RGNC theo chu kỳ có thể có tư thế bù trừ để giảm rung giật. Nguyên nhân thường gặp bao gồm xơ cứng rải rác, thoái hóa tiểu não, Chiari tuýp I, đột quỵ, sử dụng thuốc chống co giật và mất thị lực 2M. Điều trị bằng Baclofen có thể hiệu quả với dạng RGNC mắc phải loại này.

RGNC quả lắc mắc phải: bao gồm dao động pha chậm của mắt, theo kiểu quả lắc hướng ngang, dọc và xoáy (thường tạo nên dạng rung giật hình ê líp). Ngược lại, RGNC kiểu quả lắc bẩm sinh rất hiếm gặp, loại này thường ít xuất hiện chỉ với rung giật theo chiều ngang. RGNC quả lắc với cả thành phần ngang và đứng tạo ra RGNC chéo hoặc RGNC theo hình tròn hoặc hình ê líp.

  1. TRIỆU CHỨNG

4.1.Bệnh sử

– Thời gian xuất hiện RGNC: bẩm sinh hay mắc phải.

– Hoàn cảnh xuất hiện

– RGNC thường xuyên hay không thường xuyên, các yếu tố làm thay đổi RGNC như tư thế đầu, che mắt, khi ngủ …

– Có biểu hiện chóng mặt , rối loạn nghe, rối loạn thăng bằng..

– Có song thị hay không, song thị có thay đổi theo hướng nhìn không

– Có biểu hiện bât thường toàn thân kèm theo?

4.2 Khám

4.2.1. Đánh giá RGNC

Hầu hết các dạng RGNC đều có thể phát hiện dễ dàng mà không cần trợ giúp bằng các dụng cụ đặc biệt, chỉ cần quan sát kỹ lưỡng khi BN định thị vào vật chuẩn ở xa hoặc gần. Việc khám phát hiện RGNC nên được bắt đầu bằng việc quan sát BN ngay khi BN bước vào phòng khám về tư thế đi, mặt đầu.

Đánh giá sự thẳng trục nhãn cầu ở vị trí nguyên phát và các hướng nhìn khác nhau. Quan sát mắt BN khi nhìn theo về các hướng khác nhau khi vận nhanh và chậm

Khám đánh giá  RGNC:

– RGNC ở một mắt (RGNC không liên hợp) hay ở hai mắt, đồng đều hay không đồng đều, đồng hướng hay khác hướng khi rung giật giữa hai mắt.

– RGNC quả lắc hay lò xo.

– Hướng RGNC: ngang, dọc hay xoáy khi mắt nhìn thẳng, khi mắt nhìn sang bên và khi mắt nhìn lên hay xuống.

– Biên độ và tần số RGNC: xác định qua máy đo điện cơ, đo tần số. Có thể đánh giá biên độ dựa vào sự thay đổi ánh phản quang trên giác mạc.

– Có sự thay đổi tốc độ của RGNC khi: thay đổi theo hướng nhìn, khi xoay hoặc nghiêng đầu, khi định thị hoặc nhìn xa gần, khi che mắt, khi ngủ/gây mê v.v …

– Xác định góc hãm nếu có: hãm một mắt, hãm khi quy tụ v.v…

– Xem BN có rung hình hay không?

– Dùng đèn soi đáy mắt trực tiếp để đánh giá sự chuyển động của nhãn thông qua hướng chuyển động của đáy mắt (ngược lại với hướng chuyển động của nhãn cầu) trong trường hợp  RGNC có biên độ nhỏ.

4.2.2 Khám mắt chung

Khám kỹ bán phần trước, bán phần sau, đường dẫn truyền thị giác: đồng tử – phản xạ đồng tử, khám đáy mắt để phát hiện các bất thường liên quan đến các môi trường trong suốt, bất thường liên quan đến đường dẫn truyền thị giác.

Khám phản xạ chuyển động của nhãn cầu: phản xạ này phát triển khi trẻ 6 tháng tuổi. Khám phản xạ này bằng trống gây RGNC, trên thang trống có các vạch độ đậm nhạt hay kích thước các vạch khác nhau theo chiều đứng. Đặt trống trước mặt BN và xoay trống. Khi trống xoay ta quan sát chuyển động của nhãn cầu khi BN cố gắng định thị để nhìn vào các vạch sọc đang xoay trên trống. Mắt BN sẽ xuất hiện RGNC khi có động tác hướng nhìn chậm theo vạch sọc trước và trả về vị trí nguyên phát để tiếp tục nhìn vào vạch sọc kế tiếp. Phản xạ này bất thường ở BN có RGNC bẩm sinh (hướng của RGNC sẽ ngược lại).

Phản xạ mắt đầu có thể được thực hiện bằng cách để BN nhìn tập trung vào vật ở xa trong khi thầy thuốc xoay đầu BN.  Phản xạ mắt – tư thế đầu xuất hiện trong tuần đầu sau sinh khi xoay đầu nhanh theo hướng ngang hay dọc thì cả hai mắt sẽ cùng quay về hướng đối diện, nếu nhân tiền đình và bó dọc giữa bình thường. Mất thăng bằng tiền đình sẽ mất phản xạ này.

Lác: sử dụng các phương pháp khám lác hiện nay để chẩn đoán lác: test bịt mắt, che mắt luân phiên, Hirschberg, lăng kính, Synoptophore.

Khúc xạ: với những BN nhỏ tuổi thì việc đo khúc xạ khó khăn hơn, nhiều trường hợp phải đo dưới gây mê.

Các thử nghiệm chức năng mắt

Thị lực: đo thị lực xa và gần từng mắt và 2 mắt. Kết quả thị lực ở tư thế nguyên phát và vị trí thứ phát (lệch đầu, vẹo cổ). Khi thử thị lực từng mắt nên đặt kính + 5.00 D trước mắt không thử thay cho việc che một mắt.

Đo nhãn áp, khám vận nhãn, thị giác 2M, sắc giác, tương phản v.v… để phát hiện các vấn đề liên quan.

Các xét nghiệm cận lâm sàng: siêu âm, OCT, chụp ảnh đáy mắt, điện võng mạc, điện thế gợi thị giác, chụp CT, MRI, chọc dịch não tủy v.v..

Đo điện RGNC (Electronystagmograpy): có các dạng sóng cơ bản của RGNC ở hình sau với chiều đứng là vị trí mắt, chiều ngang là thời gian.

Hình 2: Các dạng sóng chính của RGNC

Sóng A: pha chậm đồng tốc độ (hay gặp trong RGNC tiền đình)

Sóng B: sóng hình sin, biểu hiện của RGNC theo kiểu quả lắc, tốc độ đều (gặp trong RGNC bẩm sinh và mắc phải)

Sóng C: Pha chậm tăng dần tốc độ (hay gặp trong RGNC bẩm sinh)

Sóng D: Pha chậm giảm dần tốc độ (gặp trong RGNC khi nhìn sang bên).

Khám toàn thân: phối hợp với các chuyên khoa nội, thần kinh, tai mũi họng … để phát hiện tìm nguyên nhân và vấn đề liên quan.

  1. 5. Chẩn đoán: chẩn đoán BN có RGNC không khó vì RGNC chỉ là triệu chứng, do đó quan trọng là xác định được nguyên nhân gây RGNC, từ đó mới có thể chẩn đoán chính xác, tiến tới điều trị hiệu quả cho BN.

5.1. Chẩn đoán phân biệt

– Cuồng động mắt: là những dao động của mắt theo hướng ngang và mắt không định thị được sau khi thay đổi hướng nhìn. Cuồng động mắt xảy ra do tổn thương phần kết nối giữa tiểu não và thân não.

– Opsoclonus: là những dao động của nhãn cầu theo nhiều hướng ngang, dọc và xoáy tròn. Thường kèm theo rung các cơ ở mặt, chân, tay. Nguyên nhân thường do u nguyên bào thần kinh (neuroblastoma) ở trẻ em, ung thư vú hoặc vòi trứng ở người lớn.

– Rung cơ chéo lớn (myokymia)

Nhãn cầu giật xuống (ocular bobbing): mắt chuyển động nhanh xuống phía dưới, sau đó từ từ trở lại vị trí thẳng. Thường xuyên xảy ra ở BN có tổn thương thân não sau hôn mê.

– Giật rung cơ (Myoclonus): dao động mắt nhịp nhàng liên quan đến sự co đồng thời của các cơ đơn lẻ (khẩu cái, lưỡi …). Nguyên nhân là do sự kết nối ngắt quãng giữa nhân bọt dưới, nhân đỏ và nhân răng.

5.2. Chẩn đoán nguyên nhân

Dựa vào cơ chế của RGNC để có thể tìm được nguyên nhân.

5.3. Chẩn đoán hình thái

RGNC bẩm sinh: thường khởi phát từ sớm (sau 2 tháng tuổi), rung giật ở hai mắt, cùng hướng theo chiều ngang, được duy trì ngay cả khi nhìn lên/xuống, RGNC kiểu quả lắc sẽ trở thành kiểu lò xo khi nhìn sang bên, pha nhanh cùng hướng với hướng nhìn. Tăng dần tốc độ ở pha chậm, được phát hiện qua máy ghi chuyển động nhãn cầu. RGNC có vùng trung hòa, ở đó RGNC giảm hoặc hết do đó BN có tư thế lệch đầu để nhìn. RGNC tăng lên khi định thị hoặc khi tập trung vào vật tiêu, mất đi khi ngủ/gây mê và đặc biệt là không có rung hình. Ngoài ra có thể gặp lác, tật khúc xạ đi kèm.

RGNC mắc phải: khởi phát muộn hơn, cấp tính hay đột ngột, thị lực mờ nhiều, có hiện tượng rung hình. Có thể rung giật ở một hoặc hai mắt. Chủ yếu xảy ra ở BN có liên quan đến vấn đề tiền đình: trung ương và ngoại biên.

RGNC tiền đinh ngoại vi

RGNC tiền đình trung ương

– Chóng mặt nhiều

– Kéo dài vài ngày đến vài tuần, giảm dần theo thời gian.

– Nghe kém, ù tai, rung hình

– RGNC thường là hướng ngang kết hợp với xoáy, hiếm khi hướng ngang đơn thuần mà không có xoáy.

– Không bao giờ gặp RGNC hướng dọc hoặc xoáy đơn thuần

– RGNC giảm khi định thị

– Không có hoặc chóng mặt ít

– RGNC có thể đánh theo hướng dọc hoàn toàn hoặc xoáy

– RGNC không thay đổi khi cố gắng định thị

– RGNC có thể gặp đánh xuống, đánh lên, RGNC thay đổi theo chu kỳ, cuồng động mắt, RGNC quy tụ co rút, RGNC kiểu bập bênh, RGNC một mắt ở trẻ em.

  1. Điều trị RGNC

6.1. Điều trị nội khoa

Việc quản lý toàn diện BN bị RGNC nên bao gồm điều trị cho các vấn đề liên quan, cũng như là cải thiện đặc điểm của RGNC. Nên cân nhắc việc điều trị sau:

– Ngừng tất cả các thuốc gây RGNC, phối hợp với bác sĩ chuyên khoa khác …

– Thuốc đối vận GABA hoặc ức chế hệ dẫn truyền kích thích thần kinh: gây giãn cơ.

– Thuốc chặn dẫn truyền thần kinh cơ: Botulimin toxin A làm giảm RGNC và cải thiện thị lực.

– Đeo kính gọng và kính tiếp xúc: ưu tiên sử dụng kính tiếp xúc nhất là những trường hợp cận thị cao, lệch khúc xạ.

– Điều chỉnh kính phân kỳ giúp kích thích quy tụ điều tiết, cải thiện thị lực nhìn gần.

– Lăng kính: sử dụng lăng kính đáy quay ra ngoài với 2 mục đích là cải thiện thị lực và ngăn ngừa tư thế bù trừ.

– Sử dụng liệu pháp che mắt tốt để điều trị RGNC ẩn.

6.2. Điều trị ngoại khoa

– Điều trị nguyên nhân: loại trừ các hiện tượng gây đục môi trường trong suốt của nhãn cầu. Cần phối hợp với chuyên ngành khác, phối hợp điều trị các vấn đề tổn thương thần kinh trung ương, bệnh về tiền đình v.v…

– Phẫu thuật các cơ ngoại nhãn: can thiệp vào các cơ trực theo  phương pháp của Kestenbaum 5-6-7-8 nhằm đưa vùng vô hiệu (null-zone) về vị trí nguyên phát.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • Hertle Richards (2009), “Nystagmus in infancy and Childhood”, Handbook of Pediatric Neuro-ophthalmology.
  • Michael C. Brodsky và SpringerLink (Online service) (2010), “Nystagmus in Children”, Pediatric neuro-ophthalmology.
  • F. Dell’Osso, D. Schmidt và R. B. Daroff (1979), “Latent, manifest latent, and congenital nystagmus”, Arch Ophthalmol.

                                                                      Ths. Bs Nguyễn Ngọc Sơn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *