VIÊM KẾT MẠC MÙA XUÂN

BS. Lê Thị Dịu

        Giải phẫu kết mạc

Hình 1. Hình ảnh giải phẫu nhãn cầu và kết mạc

Kết mạc là một màng mỏng trong suốt phủ lên bề mặt nhãn cầu và mặt trong mi mắt, tiếp nối với giác mạc ở vùng rìa và với mi ở bờ mi.

Kết mạc được chia thành 3 phần chính: Kết mạc nhãn cầu, kết mạc mi và kết mạc cùng đồ.

Chức năng: bảo vệ mô mềm, cung cấp nhày cho màng phim nước mắt, dinh dưỡng, miễn dịch và giúp nhãn cầu di chuyển dễ dàng theo các hướng

Khái niệm viêm kết mạc mùa xuân

·        Viêm kết mạc mùa xuân (Vernal keratoconjunctivitis – VKC) là 1 hình thái viêm kết mạc do phản ứng dị ứng qua trung gian tế bào IgG và T với các quá trình quá mẫn không đặc hiệu, dẫn đến tình trạng viêm mạn tính trong đó có liên quan đến hoạt hóa bạch cầu ái toan và tế bào lympho. Tế bào Mastocyte, bạch cầu ái toan và các chất trung gian hóa học đóng vai trò chính trong các biểu hiện lâm sàng [1].

·        Bệnh có thể gây nên các biến chứng thị giác nghiêm trọng với cơ chế gây bệnh chưa được xác định đầy đủ và hiện nay chưa có tiêu chuẩn vàng điều trị cho bệnh này.

Hình 2. VKC cương tụ kết mạc và hạt Horner Trantas quanh rìa giác mạc

Đặc điểm

  • Bệnh có tính chất mạn tính, tái phát, tỉ lệ gặp ở nam nhiều hơn nữ, thường khởi phát ở trẻ em vào 4-5 tuổi và kéo dài đến tuổi dậy thì rồi sẽ tự giảm dần, ít khi gặp viêm mùa xuân ở người trên 25 tuổi[2]
  • Bệnh  xảy ra thường xuyên nhất trong những tháng mùa xuân và mùa hè ở những vùng có khí hậu ấm, khô cằn, nhiều gió. Điều này là do sự gia tăng bình thường theo mùa của các chất gây dị ứng (hay gặp nhất là phấn hoa, ngoài ra có thể có bụi nhà, nấm mốc, lông chó mèo…) trong không khí.
  • Thể lâm sàng:
  • Hình thái sụn mi (Tarsal form) : tiến triển mạn tính với đặc trưng là nhú tăng sản kích thước thường > 1mm trên diện kết mạc sụn mi trên, dạng đa giác như đá lát đường với rãnh sâu ở giữa, sau đó nhú thoái triển dẹt dần
  • Hình thái nhãn cầu (Limbal form) : tổn thương chủ yếu trên kết mạc vùng rìa, tạo nên gương mặt điển hình với ánh mắt tối sẫm do lắng đọng sắc tố nâu vàng trên kết mạc kết hợp với cương tụ rìa, hạt Horner Trantas trên vùng rìa giác mạc
  • Hình thái hỗn hợp (Mix form) : tổn thương phối hợp của 2 hình thái trên
Hình 3. VKC với nhú viêm hình đa giác khổng lồ ở sun mi trên và hạt Horner Trantas ở vùng rìa giác mạc

Triệu chứng

  • Mắt bị kích thích, đau, ngứa thường xuất hiện thành từng cơn vào một giờ nhất định, hay gặp nhất là sáng sớm khi mới thức dậy
  • Cảm giác bỏng rát trong mắt
  • Chảy nước mắt, tiết tố trong, dai, dính
  • Mắt sưng nề, đỏ
  • Nhạy cảm với ánh sáng, sợ ánh sáng
  • Loét giác mạc màu trắng xám, đáy sạch phẳng, bờ gọn, ít kích thích (loét trơ)
  • Mí mắt thô ráp, và có chất nhầy màu trắng (đặc biệt là bên trong mi trên), khi lộn mi trên có thể thấy những nhú lớn đường kính > 1mm xếp cạnh nhau như đá lát có các rãnh ngăn cách sâu, có mạch máu ở đỉnh nhú do sự tăng sản tổ chức xơ đội biểu mô kết mạc lên cao hoặc những hạt tròn màu trắng sữa ở quanh rìa giác mạc (hạt Horner Trantas)
  • Cận lâm sàng : xét nghiệm tế bào học kết mạc hoặc nước mắt có thể thấy tăng bạch cầu, đặc biệt là bạch cầu ái toan[3]

Điều trị

  • Thuốc ổn định tế bào Mastocyte: là thuốc đầu tay, có tác dụng ức chế giải phóng histamine thuộc nhóm cromoglycate 4% , nhóm Iodoxamide 0,1% , Olopatadine thuốc bắt đầu tác dụng chậm, có thể dùng kéo dài mà không gây tác dụng phụ gì đáng kể (chủ yếu có tác dụng dự phòng những đợt tái phát bệnh)
  • Thuốc kháng histamine  dùng tại chỗ và toàn thân, hoạt động thông qua đối kháng thụ thể histamine để ngăn chặn tác động gây viêm của histamine nội sinh như Levocabastine 0,05%  hoặc Emedastine 0,05% , thuốc có thời gian tác dụng ngắn và thường không kiểm soát được hoàn toàn bệnh khi dùng đơn độc [4]
  • Thuốc chống viêm NSAIDs : có tác dụng ức chế enzym COX-1 và COX-2 , là một lựa chọn thay thế Steroids,  có thể kể đến Ketorolac 0,5% , Diclofenac  0,1 % và Indomethacin 1 % [5]
  • Thuốc chống viêm Steroids  sử dụng cho những trường hợp vừa và nặng để giảm triệu chứng viêm nhanh chóng và hiệu quả, tuy nhiên cần lưu ý tác dụng phụ của thuốc là tăng nhãn áp, đục thủy tinh thể, chậm liền vết thương và tăng nguy cơ nhiễm trùng, do vậy việc sử dụng thuốc cần được theo dõi chặt chẽ, chỉ nên dùng thuốc trong một thời gian ngắn, sau đó giảm dần liều và chuyển sang thuốc khác khi bệnh đã thuyên giảm. Nên sử dụng những loại Steroid ít khả năng thẩm thấu vào nội nhãn như Fluorometholone, Hydrocortisone, Loteprednol trước tiên, nếu không hiệu quả thì cân nhắc sử dụng Prednisolone, Dexamethasone hoặc Betamethasone.
  • Thuốc điều hòa miễn dịch : Những nghiên cứu mới gần đây cho thấy Cyclosprin A (CsA) nồng độ thấp có hiệu quả đối với  việc giảm triệu chứng của VKC mức độ trung bình đến nặng do tác dụng ức chế giải phóng histamine từ tế bào Mastocyte và bạch cầu ái toan thông qua giảm sản xuất IL-5 và giảm tập trung bạch cầu ái toan. CsA cho phép cải thiện triệu chứng rõ rệt mà không cần Steroids khi sử dụng kéo dài, với rất ít tác dụng phụ toàn thân được ghi nhận, nhờ đó làm hạn chế đáng kể tác dụng phụ so với việc dùng Steroids. Tác dụng phụ chủ yếu tại chỗ là đỏ và kích ứng mắt. Tuy nhiên hiện nay do không có sẵn chế phẩm thương mại của CsA nhỏ tại chỗ cũng như chưa có sự đồng thuận cho nồng độ hiệu quả tối thiểu của CsA và những hạn chế pháp lý nên đã ngăn cản việc sử dụng rộng rãi CsA trong điều trị VKC .  Những nồng độ CsA đã được theo dõi có hiệu quả là 2% , 0,5% và 0,05 %. Có nghiên cứu cho thấy CsAcó tác dụng ngăn ngừa sự tái phát của viêm kết mạc màu xuân [6].
  • Nước mắt nhân tạo : giúp bôi trơn, làm giảm cảm giác khó chịu trên bệnh nhân,đặc biệt ở những bệnh nhân bị giảm tiết nước mắt do tác dụng kháng cholinergic của thuốc kháng histamine toàn thân.
  • Tacrolimus là một loại thuốc mạnh, tương tự như CsA về phương thức hoạt động, nhưng khác biệt về mặt hóa học.Tra vào kết mạc thuốc mỡ tacrolimus 0,03% và 0,1% cho thấy có hiệu quả, dung nạp tốt và an toàn trong điều trị viêm kết mạc dị ứng nặng[7]
  • Điều trị phẫu thuật : Gọt giác mạc giúp kích thích tái tạo biểu mô giác mạc, cắt bỏ nhú khổng lồ và áp thuốc chống chuyển hóa Mytomicin C kết hợp nhỏ tại chỗ Cyclosporin A [8], Ghép màng ối với những trường hợp loét trơ lâu liền, loét sâu, cấy ghép tế bào gốc là những phẫu thuật có thể xem xét thực hiện khi có chỉ định.
Hình 4. Một số loại thuốc điều trị VKC

Những điều nên làm

  • Tránh dụi mắt vì điều này có thể khiến mắt bị kích ứng nhiều hơn.
  • Chườm lạnh (một miếng vải sạch ngâm trong nước lạnh và sau đó đắp lên mắt khi mắt nhắm ) có thể giúp làm dịu cảm giác nóng rát
  • Thuốc nhỏ bôi trơn cũng có thể giúp làm dịu mắt. Nên sử dụng các chế phẩm nước mắt nhân tạo không chứa chất bảo quản.
  • Thường xuyên rửa tay, mặt, tóc để làm giảm tiếp xúc với các chất gây dị ứng
  • Tránh tiếp xúc với các tác nhân dị ứng thường được biết đến như phấn hoa, bụi nhà, lông chó mèo,…Tránh các tác nhân dị ứng không cụ thể như nắng, gió, nước muối làm trầm trọng thêm tình trạng bệnh, sử dụng kính râm, mũ có kính che mặt, kính bơi khi cần thiết
  • Nếu các biện pháp chăm sóc tại nhà không hữu ích, bạn nên đến cơ sở y tế chuyên khoa mắt để đựơc kê đơn điều trị phù hợp với tình trạng bệnh, tránh tự ý mua thuốc vì mỗi thời điểm bệnh sẽ cần nhỏ những loại thuốc khác nhau. 

Viêm kết mạc mùa xuân gây ra nhiều khó khăn cho người bênh, ảnh hưởng đến công việc và chất lượng cuộc sống. Do vậy việc điều trị đúng theo chỉ dẫn của bác sĩ là cần thiết để làm giảm những khó chịu tại mắt, và tránh gây ra các biến chứng không đáng có. Trong những năm qua, Bệnh viện Mắt Hà Đông đã không ngừng đầu tư trang thiết bị hiện đại, ứng dụng các kỹ thuật mới, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ y bác sỹ nhằm đáp ứng được yêu cầu chuyên môn sâu, xử trí những ca bệnh phức tạp.

Tài liệu tham khảo

1. Leonardi, Andrea. “Management of vernal keratoconjunctivitis.” Ophthalmology and therapy vol. 2,2 (2013): 73-88.

2. Leonardi A. Vernal keratoconjunctivitis: pathogenesis and treatment. Prog Retin Eye Res. 2002;21(3):319–339.

3. Leonardi A, Bogacka E, Fauquert JL, et al. Ocular allergy: recognizing and diagnosing hypersensitivity disorders of the ocular surface. Allergy. 2012;67(11):1327–1337.

4. Qasem AR, Bucolo C, Baiula M, et al. Contribution of alpha4beta1 integrin to the antiallergic effect of levocabastine. Biochem Pharmacol. 2008;76(6):751–762.

5. Gupta S, Khurana AK, Ahluwalia BK, Gupta NC. Topical indomethacin for vernal keratoconjunctivitis. Acta Ophthalmol (Copenh) 1991;69(1):95–98.

6. Lambiase A, Leonardi A, Sacchetti M, et al. Topical cyclosporine prevents seasonal recurrences of vernal keratoconjunctivitis in a randomized, double-masked, controlled 2-year study. J Allergy Clin Immunol. 2011;128(4):896–7

7. Vichyanond P, Tantimongkolsuk C, Dumrongkigchaiporn P, et al. Vernal keratoconjunctivitis: result of a novel therapy with 0.1% topical ophthalmic FK-506 ointment. J Allergy Clin Immunol. 2004;113(2):355–358.

8. Tanaka M, Takano Y, Dogru M, et al. A comparative evaluation of the efficacy of intraoperative mitomycin C use after the excision of cobblestone-like papillae in severe atopic and vernal keratoconjunctivitis. Cornea. 2004;23(4):326–329.

Bài viết liên quan

Sôi nổi hội thi cắm hoa chào mừng Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10/2022

Thiết thực kỷ niệm 92 năm ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10/2022, Công đoàn Bệnh …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *